Nàng hoảng hốt lùi lại, mãi đến khi lưng chạm vào chân tường của đạo quán mới dừng.
Có lẽ vì cả ngày chưa ăn gì, nàng hoa mắt ù tai, sau lưng không ngừng toát mồ hôi lạnh, trước mắt từng đốm kim tinh chập chờn, thân người lay lắt như sắp ngã quỵ. Nàng vội vịn lấy tường để khỏi ngã nhào tại chỗ. Sau khi cố gắng chống đỡ bản thân, nàng chậm rãi ngồi xuống đất, rồi vô lực cúi đầu, nhắm mắt lại.
Cứ như thế, nàng tựa vào tường ngồi dưới đất. Mãi đến khi cảm giác khó chịu trong người dần tan đi, nhịp tim cũng từ từ bình ổn trở lại, thanh âm quanh tai mới lần nữa ùa vào. Nàng nghe thấy có người đang bàn tán về mình.
“… Người này làm sao vậy? Có phải bị bệnh rồi không?”
Cảm ơn bạn đã ghé thăm góc nhỏ của mrs châm tại mebongbom.com. Sự đồng hành của bạn là động lực rất lớn để mình hoàn thành bộ truyện này.
“Hay là trúng nắng?”
“Trông cũng không giống lắm, lại đâu phải giữa ngày hè nóng bức…”
Nàng chậm rãi mở mắt, ngẩng đầu lên.
Quanh đó đã có mấy người đi đường dừng chân đứng nhìn nàng. Có người thấy sắc mặt nàng vẫn tái nhợt, bèn tốt bụng nhắc rằng trong Quan Trâm Tinh có thiện đường cho khách nghỉ chân, bảo nàng vào xin chén nước uống.
Diệp Tự Vũ đưa tay lau mồ hôi lạnh thấm ướt chân tóc nơi trán, miễn cưỡng cười một cái, rồi đứng dậy, men theo bức tường cao của đạo quán tiếp tục đi về phía trước. Đi đến trước một cổng phường, nhìn thấy ngoài phố người qua lại vội vã ngược xuôi, nàng mới giật mình nhận ra, hóa ra tiếng trống đường phố lại đang vang lên ầm ầm bên tai.
Lại một màn đêm lần nữa buông xuống.
Nàng đứng lặng bên cạnh cổng phường thật lâu, mãi đến khi tiếng trống phố cuối cùng dứt hẳn, cổng phường trước mặt mới chậm rãi khép lại.
Nơi nàng đang đứng là một trong những phường thị phồn hoa bậc nhất thành Trường An, ngày đêm huyên náo, đèn lửa chưa từng tắt.
Đêm ấy, Diệp Tự Vũ vô định xuyên qua biển đèn rực rỡ. Đi đến khi không còn nhấc nổi bước chân, nàng lại quay về Quan Trâm Tinh, ngồi tựa qua đêm trong một góc khuất nơi cửa sau. Nơi đây không có ánh đèn, cũng chẳng ai lui tới. Trong bóng tối, nàng nhắm mắt, vượt qua đêm thứ hai sau ngày trở về.
Trời vừa sáng, cổng phường Sùng Nhân gần đó mở ra.
Tiểu nhị của Tứ Thông lữ điếm ngáp dài mở cửa lớn, liền thấy ngoài cửa đứng một thiếu niên thân hình gầy mảnh. Tuy y đai nhăn nhúm, sắc mặt tái nhợt, nhưng dung mạo thanh tú, tưởng là sĩ tử lên kinh ứng thí đến thuê phòng. Đợi nghe đối phương mở miệng hỏi tìm một người tên Chu Hạc đang ở nơi này, hắn mới chỉ đường, bĩu môi nói:
“Cái gã họa tượng nghèo kiết xác ấy à! Bụng đói còn bày đặt làm vẻ phong lưu! Đã thiếu nửa tháng tiền phòng rồi, bảo hắn dọn sang thông phô lại không chịu. Nếu không phải hắn van nài mãi, đã sớm bị đuổi ra ngoài!”
Trường An vốn tụ hội vô số hào khách. Nhiều hàn sĩ sau khi tới kinh thành, thà mắc nợ cũng muốn ở những lữ quán hoặc trạch viện tươm tất đôi chút, để khỏi bị người khinh rẻ, ảnh hưởng tới việc giao du kết bạn.
Phường Sùng Nhân lại nằm gần hoàng cung, kẹp giữa Đông Thị và khu tuyển viện của cựu Thượng Thư tỉnh, từ lâu đã trở thành nơi sĩ tử tụ tập đông đảo. Một phòng khó cầu, giá trọ tự nhiên cũng đắt đỏ.
Chu Hạc hẳn cũng ôm tâm tư ấy nên mới ở lại nơi này.
Diệp Tự Vũ tìm đến căn phòng hắn ở, đưa tay gõ cửa.
Không ai đáp.
Nàng lại gõ tiếp.
Mấy lượt sau, cửa mới chậm chạp hé ra một khe nhỏ. Người bên trong nói:
“Sao mới sáng sớm đã lại tới thúc tiền rồi? Ta nói rồi, thêm vài ngày nữa sẽ gom đủ…”
Ngẩng đầu nhìn rõ người tới, hắn sững ra, tiếp đó mặt hơi đỏ lên.
Người mở cửa chính là Chu Hạc. Chỉ là dáng vẻ lúc này đã khác hôm qua — tóc tai rối bù, quầng mắt thâm đen, thần sắc đầy vẻ ảo não.
Cửa tuy chỉ mở hẹp, nhưng cũng đủ nhìn thấy bên trong bừa bộn vô cùng. Khắp nơi đều là họa cảo và thủy vu dính đầy màu khô. Trong góc còn chất một xấp giấy tiên trông giống thơ văn bản thảo.
Diệp Tự Vũ gật đầu với hắn, mỉm cười nói:
“Mạo muội sáng sớm đã tới quấy rầy. Nếu thuận tiện, có thể cho ta mượn chỗ nói chuyện chăng? Ta có việc muốn thỉnh giáo Chu huynh.”
Chu Hạc rất nhanh đã khôi phục vẻ tự nhiên, mở cửa mời nàng vào trong, tự giễu cười một tiếng, chỉ đống họa cảo nói:
“Không giấu gì ngươi, gần đây ta quả thật túng thiếu. Lại không muốn chuyển xuống chỗ ở hạng thấp sống lẫn cùng thương nhân phu khuân vác, nên chỉ đành dựa vào bán tranh để kiếm lộ phí. Ngươi cũng biết rồi đấy, vô danh vô tiếng, dù vẽ có tốt đến đâu cũng chẳng ai thưởng thức, chỉ có thể vẽ thuê rồi đem bán cho họa phường. Đêm qua thức suốt nửa đêm mới kịp hoàn thành. Ban nãy còn tưởng lữ điếm lại đến thúc tiền phòng nên không dám mở cửa, nào ngờ lại là tiểu huynh đệ ghé thăm, thật khiến ngươi chê cười.”
Diệp Tự Vũ nhìn qua.
Nội dung tranh phần nhiều là mỹ nhân giữa hoa, màu sắc hoa lệ tinh xảo, phú quý nồng diễm, hẳn dùng trong tửu quán nhã các hoặc chốn thanh lâu. Tuy đều là tranh vẽ thuê, thời gian lại gấp gáp, nên ở vài chi tiết khó tránh khỏi lặp lại, nhưng nét bút cực kỳ tinh tế. Thần thái và tư thế nhân vật cũng mỗi người một vẻ — hoặc tình ý miên man, hoặc chau mày mỉm cười nhạt nhòa; ngồi nằm khác biệt, không có nhiều năm công lực hội họa thì tuyệt đối không thể đạt được.
Diệp Tự Vũ cười nói:
“Ta họ Diệp, trong nhà xếp thứ hai, Chu huynh gọi ta là Diệp Nhị là được. Là ta đường đột trước, sáng sớm đã tới quấy rầy. Chu huynh không trách, đã là may mắn của ta rồi.”
Chu Hạc xua tay:
“Hôm qua ta còn tưởng sau khi từ biệt sẽ không còn cơ hội gặp lại ngươi nữa. Hôm nay ngươi tới, ta cầu còn không được. Ban nãy ngươi nói muốn thỉnh giáo, ta nào dám nhận. Nếu có việc gì, cứ nói thẳng.”
“Ta nhớ hôm qua Chu huynh từng nói, trước kia từng theo lệnh tôn vẽ mộ họa cho lăng Chiêu Đức hoàng hậu. Ta muốn biết rõ chuyện ấy, không biết có thể kể cho ta nghe chăng?”
Chu Hạc khựng lại.
Có lẽ không ngờ nàng sáng sớm tìm tới chỉ vì chuyện này, nhưng rất nhanh đã đáp:
“Không sai, đúng là có việc ấy. Niên hiệu hiện nay của Thánh nhân là Càn Đức, ta nhớ là chuyện năm Càn Đức thứ năm. Còn lăng tẩm thì hẳn đã bắt đầu xây từ năm Càn Đức thứ hai, hao phí mấy năm trời, nhân công tính đến hàng chục vạn. Công tượng ngày đêm đục núi không nghỉ, mãi mới thành hình mà bắt đầu vẽ. Không tính những họa công vô danh chỉ phụ trách hoa văn góc cạnh, riêng họa sư nổi danh trong cung cũng có hơn mười hai mươi vị được điều tới đó, tổng số họa công lên đến hàng trăm. Ta nhớ lúc đông người nhất, bên trong mộ thất giàn giáo dựng san sát, đuốc lửa sáng suốt ngày đêm.”
Diệp Tự Vũ chợt cứng người.
Chu Hạc càng nói càng hứng thú, thở dài:
“Cái gọi là sự tử như sinh, nghĩ ra cũng chỉ đến thế mà thôi. Đời người ai chẳng có lúc trăm năm. Sau trăm năm có thể yên giấc dưới một tòa địa cung như thế, cũng xem như vinh hiển tột cùng. Nhưng kỳ lạ là, năm đó còn có một lời đồn — rằng lăng tẩm ấy thật ra chỉ là một ngôi mộ trống, bất quá chỉ là y quan trủng mà thôi…”
Nói đến đây, hắn đột nhiên khựng lại, tựa hồ hối hận vì đã nhắc tới chuyện này. Hắn ho khan một tiếng, chuyển đề tài cười nói:
“Diệp Nhị đệ không biết đã dùng điểm tâm chưa? Nếu chưa, hay là cùng đi ăn chút gì?”
Diệp Tự Vũ không nhúc nhích:
“Huynh chẳng phải nói huynh biết khá nhiều chuyện trong ngoài cung đình sao? Những gì huynh biết, kể cả lời đồn kia, đều nói cho ta.”
Trong mắt Chu Hạc thoáng hiện vẻ kinh ngạc. Hắn nhìn nàng một cái, mặt lộ vẻ khó xử:
“Diệp Nhị đệ, không phải ta thất tín, mà là có vài chuyện liên quan tới bí mật hoàng gia, đâu phải hạng người như ta có thể tùy tiện bàn luận.”
“Huynh muốn bao nhiêu tiền? Ta sẽ nghĩ cách xoay xở.”
Diệp Tự Vũ nhìn đôi mắt vẫn còn đỏ ngầu vì thức suốt đêm vẽ tranh của hắn, chậm rãi nói.
Chu Hạc trầm mặc một lát, chợt hỏi:
“Ngươi học vẽ ở đâu? Bái ai làm thầy?”
Hắn vốn cực có thiên phú hội họa, từ nhỏ lại được phụ thân — một vị họa sư cung đình — hun đúc, thêm nhiều năm khổ luyện, nên tuyệt chẳng phải hạng tầm thường, nhãn lực cũng cao hơn người khác rất nhiều. Tranh bình thường khó mà lọt vào mắt hắn.
Nhưng hôm qua, lúc vô tình nhìn thấy bức họa của thiếu niên trẻ hơn mình rất nhiều kia, trong lòng hắn thật sự chấn động.
Nội dung bức họa là môn thần Thần Đồ và Uất Lũy — một đề tài cực kỳ phổ biến, đã bị vẽ đến mức cũ mòn, không còn nửa phần mới lạ. Đừng nói họa sư, ngay cả họa công hay những dân gian họa tượng thấp kém nhất, nhắm mắt cũng có thể vẽ ra.
Thế nhưng qua nét bút của đối phương lại hoàn toàn khác biệt.
Bút pháp lên xuống mạnh mẽ, thanh cứng hữu lực mà vẫn lưu loát như mây trôi nước chảy. Đôi mắt của hai vị môn thần chỉ dùng vài nét phác họa, vậy mà như điện quang ẩn hiện, uy nghiêm lộ nộ, thần thái sống động như sắp từ trên giấy nhảy vọt ra ngoài, khiến tà ma nhân gian nhìn mà khiếp sợ lui bước.
Phong cách và bút pháp ấy rõ ràng xuất phát từ Diệp họa công, nhưng lại không hề câu nệ, càng chẳng phải đơn thuần bắt chước, mà phóng khoáng tự nhiên, tùy tâm tung bút.
Nghe nói thuở thiếu thời, Diệp Chung Ly từng là du hiệp, thân không vật dài, chỉ có một thanh kiếm cùng một cây bút. Chính từ kiếm đạo mà ông lĩnh ngộ bút pháp, hòa hội quán thông, người và bút hợp làm một, tự thành một phái, cuối cùng trở thành bậc tông sư một đời, được vạn người kính ngưỡng.
Trong lòng Chu Hạc vốn cực kỳ tự phụ.
Luận về họa kỹ, ngay cả Hàn Lâm họa trực Phương Sơn Tận của cung đình hiện nay, hay Diêu Húc — kẻ đang được thế lực nhất lúc này — thực ra hắn cũng chưa chắc đã để vào mắt.
Họa công của thiếu niên trước mặt dĩ nhiên không thể so với chân tích của Diệp Chung Ly, nhưng nếu nói về mức độ lĩnh hội thần tủy, thành thật mà nói, ngay cả hắn — người đã khổ luyện Diệp họa nhiều năm — cũng không bằng.
Giờ phút này cuối cùng cũng có cơ hội mở miệng hỏi, Chu Hạc chăm chú nhìn chằm chằm thiếu niên trước mặt.
Diệp Tự Vũ nói:
“Diệp tổ được thế nhân tôn như thần minh, nhưng bản thân người lại luôn tự xưng là họa tượng, chưa từng giấu nghề. Ta nghe nói khi xưa lúc còn ở Trường An, cho dù là dân gian họa tượng thấp kém nhất tới thỉnh giáo họa kỹ, người cũng tận tâm chỉ dạy, truyền bá hội họa rộng khắp.”
“Trước khi hoàn thành Thiên Nhân Kinh Lạc Trường Quyển rồi rời khỏi Trường An, người còn biên soạn một bộ họa kinh, ghi lại toàn bộ khẩu quyết vẽ tranh, phương pháp nghiền màu cùng các tâm đắc cả đời, để kỹ nghệ được truyền thừa, khiến thiên hạ những ai có chí với họa đạo đều có cái để học theo.”
“Họa kinh ấy lưu truyền đến nay, tạo phúc cho vô số họa sinh trong thiên hạ. Những chuyện ấy đều là điều ai ai cũng biết, Chu huynh hẳn còn hiểu rõ hơn ta.”
“Gia sư của ta chẳng qua chỉ là một họa sư vô danh nơi sơn dã. Thuở sớm từng du lịch phồn hoa, về sau nhìn thấu thế tục, chuyên tâm nghiên cứu hội họa, rồi dốc hết sở học truyền lại cho ta.”
Diệp Tự Vũ giơ bàn tay phải lên trước mặt Chu Hạc. Trên những khớp ngón tay nàng có vài vết chai do cầm bút lâu năm.
“Ta vốn không có thiên tư, may mà gặp được minh sư, hiểu được đạo lý cần cù có thể bù đắp thiếu sót. Tranh ta vẽ nếu may mắn lọt vào mắt Chu huynh, ấy đã là vinh hạnh của ta.”
Lời này kín kẽ không chút sơ hở.
Chu Hạc nhìn nàng hồi lâu rồi nói:
“Diệp Nhị, sau này nếu ngươi thật sự có ngày xuất đầu lộ diện, chớ quên đề bạt ta một phen. Chỉ cần ngươi đáp ứng, ta sẽ đem toàn bộ những gì ta biết nói ra.”
“Ngươi cũng rõ đấy, chuyện liên quan tới cung đình triều đường, có vài điều không thể nói bừa, sơ sẩy là mất đầu như chơi—”
“Nếu ta làm được, tất sẽ không quên.”
“Được! Ta tin ngươi!”
Chu Hạc khẽ vỗ tay một cái, quay đầu nhìn bốn phía:
“Nơi này không tiện nói chuyện, ngươi theo ta!”
Hai người rời khỏi lữ quán.
Chu Hạc đi về hướng đông ra khỏi thành, một mạch vượt qua Xuân Minh môn, tới vùng hoang dã ngoài thành. Chung quanh chẳng thấy nửa bóng người, hắn mới dừng lại hỏi:
“Ngươi muốn biết điều gì?”
“Những gì huynh biết, ta đều muốn nghe.”
Chu Hạc khó hiểu nhìn nàng:
“Nói ra thì chuyện dài lắm…”
“Dài thế nào cũng không sao!”
Hắn trầm ngâm một lát:
“Nhưng đương kim hoàng hậu Liễu thị lại không phải mẫu thân ruột của thái tử, mà là di mẫu.”
Khi Thánh nhân còn là Định vương, ban đầu lấy trưởng nữ Liễu gia vùng Quan Đông làm vương phi. Liễu phi sinh ra thái tử hiện nay là Lý Mậu, về sau bệnh mất.
Đến lúc nghị lập kế phi, Liễu gia vốn muốn một đường muội của Liễu phi tiếp tục làm Định vương phi, nhưng Định vương lại có người vừa ý khác.
Nữ tử ấy chính là vị Ân vương phi sau này.
Phụ thân của Ân vương phi từng giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám. Ân nữ dung mạo cực đẹp, cũng chẳng biết cơ duyên thế nào mà lọt vào mắt Định vương. Định vương đem lòng ái mộ, cầu xin đến trước mặt lão Thánh nhân.
Khi ấy, lão Thánh nhân đã ngày một già yếu, cực kỳ đề phòng các hoàng tử. Thỉnh cầu này của Định vương vừa khéo hợp ý ông ta, nên đích thân ban hôn.
“Nghe nói khi Ân vương phi gả cho Định vương, tuổi chỉ mới mười bảy mười tám. Định vương lúc ấy cũng đang độ anh hùng tráng niên. Sau khi cưới được Ân vương phi thì sủng ái vô cùng, vào cùng đi, ra cùng xe, trong mắt không còn ai khác, đúng là thần tiên quyến lữ.”
“Sau đó hai người sinh được một ái nữ, phong hiệu là quận chúa Trâm Tinh. Gần phường Vụ Bản có một nữ quan quán tên Quan Trâm Tinh, nơi ấy vốn là phủ Định vương ngày trước. Cái tên Trâm Tinh cũng bắt nguồn từ vị quận chúa ấy.”
“Không chỉ vậy, ta còn nghe nói danh hiệu Trâm Tinh của tiểu quận chúa năm xưa hình như cũng có một điển cố nào đó…”
“Chuyện ấy không cần nói nữa.”
Diệp Tự Vũ đột nhiên cắt ngang lời hắn.
“Cái gọi là lăng trống là chuyện thế nào?”
“Việc này phải bắt đầu từ Diệp Chung Ly.”
“Diệp Chung Ly tuy tự xưng môn đồ khắp thiên hạ, nhưng người thật sự được ông thu làm đệ tử, mang theo bên cạnh tận tâm dạy dỗ, chỉ có một người, tên là Đinh Bạch Nhai.”
Đây là lần đầu tiên Diệp Tự Vũ nghe nói A công từng có một vị đệ tử thân truyền như vậy, bất giác ngẩn người.
“Đinh Bạch Nhai thiên tư xuất chúng, văn chương thơ họa đều không tầm thường. Nhưng vì xuất thân bần hàn, không có gia thế chống lưng, sau khi tới Trường An nhiều lần thi khoa cử đều trượt, cuối cùng nản lòng, bỏ văn chuyên tâm học vẽ.”
“Thiên phú hắn vốn đã thông minh, lại được Diệp Chung Ly tận tình chỉ dạy, mấy năm sau liền danh chấn Trường An.”
“Năm ấy Diệp Chung Ly hoàn thành Thiên Nhân Kinh Lạc Trường Quyển rồi rời khỏi Trường An, nhưng Đinh Bạch Nhai lại ở lại, trở thành họa sư cung đình được chú ý nhất thời bấy giờ. Hắn tham dự đủ loại cung yến, từng vẽ chân dung cho các nữ quyến hoàng thất, từ thái hậu cho tới vương phi công chúa.”
“Đinh Bạch Nhai phong thần tú cốt, tiêu sái bất kham, có phong thái Ngụy Tấn. Sau khi thành danh, hắn được gọi là mỹ nam tử số một Trường An. Vì ngày thường thích mặc bạch y, người đời đều gọi hắn là Bạch Y Đinh Lang.”
“Kẻ ngưỡng mộ hắn nhiều vô kể. Trong lời đồn còn nói không ít quý nữ cao môn vì muốn cầu hắn vẽ chân dung cho mình mà đào tâm vét óc, thậm chí không tiếc ném ngàn vàng đút lót hoạn quan đắc thế của Ty Cung Đài, để được sắp xếp cơ hội gặp mặt.”
“Thế nhưng hắn lại chỉ si tình với Định vương phi, mượn thân phận họa sư cung đình cố ý tiếp cận. Hai người dần nảy sinh tư tình, nhưng vì thân phận nên đều cố nhẫn nhịn.”
“Sau đó vừa hay gặp lúc loạn biến, trời ban cơ hội.”
“Nghe nói trước đêm kinh thành thất thủ, Thái hoàng thái hậu từng triệu Ân vương phi mang theo tiểu công chúa vào cung để chuẩn bị cùng đi tây hành. Nhưng nàng lại nhân cơ hội ấy cùng Đinh Bạch Nhai bỏ trốn.”
“Từ đó hai người biệt vô tung tích, không còn nửa điểm tin tức. Sau khi Định vương đăng cơ, nếu hai người còn sống, tự nhiên càng không dám lộ diện. Có lẽ giờ này đang ở một nơi nào đó trong thiên hạ, làm một đôi uyên ương tiêu dao.”
Diệp Tự Vũ nghe mà máu toàn thân như chảy ngược, tim đập loạn không ngừng.
Nàng cũng nhớ ra rồi.
Năm ấy nàng từng theo A nương vào cung, quả thật đã gặp một họa sư trẻ tuổi dung mạo tuấn tú như ngọc.
Người họa sư ấy còn từng vẽ chân dung cho cả nàng và A nương.
Nhớ khi ấy A nương cực kỳ yêu thích, từng treo bức mẫu nữ đồ kia trong tẩm đường. Về sau chẳng biết vì sao, A cha dường như không thích, nên bức họa bị tháo xuống.
“Không thể nào!”
Nàng rốt cuộc nhịn không được bật thốt phản bác.
“Ta bảo huynh kể chuyện cũ triều đình, huynh lại đem mấy lời đồn không biết nghe ở đâu tới nói với ta!”
Chu Hạc cười khẩy một tiếng.
“Nếu xét theo lẽ thường, quả thực khó mà tin được. Nhưng ngày ấy trời đất đảo điên, Trường An loạn thành một đoàn, ngay cả hoàng đế cũng bỏ dân mà chạy, ai nấy đều nguy cấp tính mạng, còn gì phải cố kỵ nữa? Trong tình cảnh như vậy, thân phận còn đáng giá bao nhiêu?”
“Không biết ngươi từng thấy nơi gọi là miếu Xã An trong phường Sùng Nhân chưa. Trước loạn biến, đó vốn là nơi hoàng gia cử hành hôn lễ cho công chúa quận nữ, dân thường không được bén mảng tới, cao quý biết bao.”
“Sau khi kinh thành thất thủ, mấy chục vị công chúa cùng phò mã vì tin tức chậm trễ không kịp chạy trốn, đều lánh nạn vào đó. Loạn binh kéo tới, gian sát công chúa, tàn sát phò mã. Máu bọn họ chảy tràn qua ngạch cửa, nhuộm đỏ cả mặt đất.”
“Trời cũng sụp rồi, huyết mạch có cao quý đến đâu thì sao chứ? Chẳng phải vẫn như heo chó mặc người giết chóc đó sao? Chi bằng nhân cơ hội cùng người trong lòng bỏ đi, nửa đời sau còn được tiêu dao khoái ý.”
Sắc mặt Diệp Tự Vũ miễn cưỡng vẫn giữ bình tĩnh, nhưng hai tay dưới ống tay áo đã siết chặt thành quyền, run rẩy không cách nào khống chế.
Chu Hạc tiếp tục:
“Dĩ nhiên, Ân vương phi có thật sự bỏ trốn hay không, sống chết thế nào, cũng chẳng phải ta quyết định. Nhưng những năm đầu sau khi loạn biến được dẹp yên, trong triều ngoài nội, ai ai cũng biết lời đồn ấy.”
“Ngươi có biết vì sao trong thành Trường An ngày nay hiếm thấy bích họa năm xưa của Diệp Chung Ly không? Chân tích trên giấy lụa của ông hiện giờ càng là vạn kim khó cầu. Tuy phản quân quả thật từng phá hủy một phần, kể cả trường quyển ông từng vẽ trong Vĩnh An điện, nhưng cũng không đến mức hủy sạch toàn bộ. Phần còn lại đều là do ý của đương kim.”
“Sau khi người đăng cơ, các chùa miếu đạo quán ở Trường An đều lần lượt hành động — hoặc dùng tranh mới phủ lên tranh cũ, hoặc dứt khoát phá bỏ luôn. Nếu không nhận thượng mệnh, ai nỡ hủy đi những chân tích ấy?”
“Ngày nay chỉ còn bức tường phía nam của Thiên Vương điện chùa Thanh Long là vẫn còn lưu lại một bích họa của ông. Nghe nói vì tăng nhân thực sự không nỡ, liều cả tính mạng xây thêm hẳn một bức tường mới phía trước nam bích để che chắn, lúc ấy mới may mắn giữ lại được đến nay.”
“Càng khỏi nói, khi ấy những họa sư cung đình từng có giao tình với Đinh Bạch Nhai, chẳng biết đã bị đuổi giết bao nhiêu người!”
Hắn tuy không nói thẳng, nhưng ý tứ đã quá rõ.
Đó là Định vương sau khi đăng cơ, vì căm hận Đinh Bạch Nhai mà giận chó đánh mèo lên Diệp Chung Ly, hạ lệnh hủy tranh của ông, đồng thời bức hại những họa sư từng có qua lại với ông.
“Những điều ngươi nói chưa chắc đã là thật.”
Diệp Tự Vũ định thần, lại không nhịn được lên tiếng biện giải.
“Nếu thật sự như lời huynh, vì sao về sau lại không cấm nữa? Ta nghe nói trong tân điện xây để chúc thọ Thánh nhân, thậm chí còn muốn tái hiện trường quyển năm xưa của Diệp Chung Ly!”
Chu Hạc gật đầu:
“Lời ngươi nói quả không sai. Nhưng nếu đổi lại ngươi là Thánh nhân, ngươi cũng sẽ làm như vậy thôi.”
“Ban đầu chẳng qua chỉ là hành động trút giận trong cơn thịnh nộ. Người thường còn chưa chắc chịu nổi loại nhục nhã ấy, huống hồ thiên tử chí tôn?”
“Nhưng về sau rồi sẽ nghĩ thông. Càng làm thế chẳng phải càng chứng thực lời đồn kia sao? Như vậy thì mặt mũi Thánh nhân còn đâu, biết để vào đâu?”
“Huống hồ danh tiếng của Diệp Chung Ly thực sự quá lớn, dân gian đã tôn ông ấy như thần. Không phải ta mạo phạm thiên uy, nhưng cho dù là thiên tử, e rằng cũng khó mà đè ép lâu dài.”
“Chi bằng thuận nước đẩy thuyền, che lấp chuyện xấu năm xưa như chưa từng tồn tại, rồi chiếu cáo thiên hạ rằng Chiêu Đức hoàng hậu năm ấy bất hạnh chết dưới tay phản quân — đó mới là đạo của đế vương.”
Diệp Tự Vũ lập tức trầm mặc.
“Như vậy ngươi hẳn đã hiểu vì sao đó là một tòa lăng trống rồi chứ?”
“Nhiều năm qua đi, nhắc tới Chiêu Đức hoàng hậu, dân gian ai nấy đều nói Thánh nhân vì tưởng niệm hoàng hậu mà đại tạo hoàng lăng, dù âm dương cách biệt cũng khó đoạn tình sâu.”
“Phu thê thiên gia tình thâm đến vậy, đủ làm điển phạm cho lê dân thiên hạ. Chẳng phải rất tốt sao?”
Chu Hạc kể xong đoạn chuyện cũ ấy, thấy đối phương hồi lâu không lên tiếng, liền cười hỏi:
Truyện được dịch bởi Mẹ Bông Bom!!!
“Sao ngươi không nói gì nữa? Còn muốn hỏi thăm chuyện gì khác không?”
“Trong cung có phải từng có một nội thị tên Triệu Trung Phương?”
Diệp Tự Vũ chậm rãi ngẩng mắt hỏi.
“Triệu Trung Phương…”
Chu Hạc lặp lại cái tên ấy, nhíu mày suy nghĩ chốc lát rồi gật đầu.
“Hình như ta vẫn còn chút ấn tượng. Sau khi Thánh nhân đăng cơ, chính người này làm nội thị thừa. Nghe nói hắn vốn là cựu nhân của phủ Định vương, được Thánh nhân cực kỳ trọng dụng. Khi ấy Viên Trị còn chẳng biết ở đâu!”
“Nhưng về sau chẳng hiểu vì sao, mấy năm sau người đột nhiên biến mất, cũng không biết đi đâu, sống chết thế nào. Ty Cung Đài ngày nay đã hoàn toàn là thiên hạ của Viên Trị rồi.”
“Nhiều năm như vậy trôi qua, trong cung e rằng người còn nhớ cái tên ấy cũng chẳng còn bao nhiêu.”
“À đúng rồi, ta nhớ người này chân có tật, đi đường một chân dài một chân ngắn. Nếu ta không nhớ lầm, hẳn chính là người ngươi hỏi.”
Ngoài đồng nội cỏ cây um tùm xanh tốt, dã hoa khắp nơi chen nở. Ánh mặt trời rực rỡ chói mắt, gió ấm từng trận lướt qua thân người.
Thế nhưng theo từng lời kể của Chu Hạc — kẻ từng trải qua chuyện cũ năm xưa — Diệp Tự Vũ lại cảm thấy toàn thân như bị ngâm trong giếng băng giữa mùa đông, từng chút từng chút lạnh xuống.
Đến cuối cùng, lạnh đến mức chân răng nàng như cũng rịn ra từng luồng hàn khí.
“Diệp lão đệ, ngươi làm sao vậy? Sắc mặt trông không ổn lắm, có phải thân thể khó chịu không?”
Bên tai truyền tới tiếng gọi đầy quan tâm.
Diệp Tự Vũ hoàn hồn, thấy Chu Hạc đang nhìn mình với ánh mắt lo lắng.
Nàng lắc đầu:
“Hôm nay đa tạ Chu huynh, ta mở mang rất nhiều. Ta không sao nữa, nên trở về rồi.”
Nàng hơi cúi đầu với Chu Hạc, quay người đi về phía thành nội.
Đi được mấy bước, nàng bỗng dừng lại, xoay đầu, từng chữ từng chữ nói:
“Những điều huynh vừa kể, toàn bộ đều chỉ là lời đồn và suy đoán.”
Chu Hạc sững người, lập tức bật cười nhạt:
“Vậy thì sao? Gió nổi nơi không hang cũng phải có lỗ hổng. Huống hồ những lời ấy năm xưa vốn đã truyền khắp nơi, đâu phải Chu Hạc ta bịa đặt từ không thành có.”
Diệp Tự Vũ không nói thêm nữa, xoay người tiếp tục đi.
“Diệp lão đệ, chuyện chúng ta vừa nói ban nãy…”
Chu Hạc nhìn bóng lưng đang dần xa phía trước, bỗng cất tiếng gọi.
“Ta nhớ.”
Diệp Tự Vũ không quay đầu, cứ thế rời đi.
Trường An quá lớn.
Ngày hôm ấy, khi Diệp Tự Vũ cuối cùng trở về lữ điếm ở phường Vĩnh Bình, tiếng mộ cổ đã một lần nữa vang vọng khắp đầu đường cuối ngõ, từng hồi thúc giục người người trở về nhà.
Nàng đi bộ trở về.
Không phải không bắt được xe hồi thành — tới Tây Thị là đã có rất nhiều xe tiện đường có thể đi nhờ.
Nhưng nàng cứ đi.
Đi đến mức hai chân gần như tê dại, cả người kiệt quệ rã rời.
Dường như chỉ có như vậy, nàng mới không cảm nhận được khối đá khổng lồ đang đè nặng trong lồng ngực, mang tới thứ đau đớn ngột ngạt gần như khiến người ta không thở nổi.
Trước lúc rời đi, từng chữ từng chữ nàng nói với Chu Hạc câu ấy, há chẳng phải cũng là để tự nói cho chính mình nghe sao?
Nàng tuyệt đối không tin A nương mình sẽ trong đêm ấy bỏ lại nàng và A cha, cùng một họa sư trẻ tuổi tư bôn mà đi.
Đêm ấy về sau, nàng đã biết bao lần mong mỏi phụ vương — người trong lòng nàng từ trước đến nay không gì không thể — sẽ từ trên trời giáng xuống, cứu nàng thoát khỏi nỗi kinh hoàng mà nàng chưa từng trải qua.
Triệu Trung Phương đẩy nàng đi.
Nàng vừa khóc vừa ngoái đầu lại, nhìn thấy những kẻ đang đuổi theo phía sau.
Dưới màn đêm đen kịt, gương mặt bọn chúng theo vó ngựa phi nhanh mà nhảy nhót méo mó trong ánh đuốc. Trong số đó có một gương mặt, nàng từng gặp qua.
Có một điều Chu Hạc nói quả thực không sai.
Nàng có một vị huynh trưởng cùng cha khác mẹ lớn hơn mình gần mười tuổi, tên là Lý Mậu.
Người của Liễu gia bên phía ngoại tổ hắn thường xuyên tới phủ thăm nom. Người đến nhiều nhất chính là di mẫu của Lý Mậu — cũng là Tiểu Liễu hậu hiện nay.
Chỉ vài ngày trước đêm đó, nữ nhân kia lại tới phủ, đón Lý Mậu đi, nói mẫu thân nàng ta nhớ ngoại tôn vô cùng, muốn được gặp mặt.
A nương là kế mẫu, nhưng đối với Lý Mậu vẫn tận tâm tận lực, ngày thường chăm sóc và quan tâm hắn tuyệt chẳng kém nàng.
Thế nhưng Tự Vũ khi còn nhỏ vẫn có thể cảm nhận được, Lý Mậu ngoài mặt cung thuận, nhưng sau lưng phụ vương, trong ánh mắt nhìn mẫu phi và nàng luôn mang theo vài phần chán ghét âm thầm.
Gương mặt méo mó trong ánh lửa kia, chính là hộ vệ trưởng của Liễu gia từng đi theo Liễu nữ đến đón Lý Mậu ngày ấy.
Đêm ác mộng ấy đã trôi qua rất nhiều năm rồi.
Nàng không chết.
Nàng trở về tòa thành nơi mình sinh ra.
A cha năm xưa nay đã thành Thánh nhân đương triều.
Vương thái hậu trở thành Thái hoàng thái hậu.
Nữ nhi Liễu gia trở thành hoàng hậu.
Vị huynh trưởng cùng cha khác mẹ của nàng nay là thái tử.
Tất cả mọi người đều sống rất tốt, thậm chí còn tốt hơn trước kia.
Chỉ có A nương nàng — người nữ tử đẹp đẽ dịu dàng nhất thế gian — dường như đã chết đi.
Người từng là phu quân của bà dựng cho bà một tòa hoàng lăng nguy nga, để thiên hạ ai ai cũng có thể nhìn thấy.
Nhưng dường như bà lại vẫn còn sống.
Sống trong lời người đời, bằng một phương thức nhục nhã nhất.
Đến lúc này, Diệp Tự Vũ cuối cùng cũng hiểu A công nhiều năm qua rốt cuộc luôn tìm kiếm ai.
Ông nhất định đã biết lời đồn ấy, cho nên mới cố chấp như vậy, nhiều năm qua luôn muốn tìm cho được vị đệ tử thân truyền mà ông coi trọng nhất, người đang mang ô danh trên lưng.
Đó chính là tâm nguyện chưa dứt của ông.
Sau khi ở cùng nàng ba năm, A công cuối cùng vẫn giao nàng cho Bùi Ký, mặc cho thân thể đã suy yếu mà một mình rời đi, tới một nơi nàng không biết.
Khi vừa khôi phục ký ức, nàng từng có lúc nảy sinh xúc động mãnh liệt muốn lập tức đến trước mặt A cha, nói cho người biết nàng đã trở về.
Hắn cũng giống nàng, may mắn sống sót, hơn nữa sau đó còn tiếp tục hầu hạ A cha suốt mấy năm.
Khi ấy, hắn không thể nào không nhìn thấy gương mặt kia.
Càng không thể không biết đối phương là ai.
Gương mặt ấy xuất hiện ở đó rốt cuộc có ý nghĩa gì, ngay cả nàng còn nghĩ thông được, Triệu Trung Phương không thể không hiểu.
Trong đầu Diệp Tự Vũ dường như lại hiện lên một ngọn lửa cháy bừng giữa không trung.
Ngoài cổng phường Vụ Bản, đầy cây lựu đỏ rực.
Triệu Trung Phương vừa bị đánh roi, nằm sấp trên giường không thể động đậy. Nàng lén chạy tới thăm hắn, mắt đỏ hoe, trong lòng đầy hối hận.
“Ôi, ôi, đều tại ta, hại ngươi thành ra thế này. Ngươi có giận ta không?”
Hắn cuống quýt lắc đầu.
“Tiểu quận chúa đừng khóc! Nô tài không đau chút nào! Sao nô tài lại giận tiểu quận chúa được? Tiểu quận chúa không sao mới là vạn hạnh. Tiểu quận chúa mau đi đi, ngàn vạn lần đừng để ai thấy người tới đây!”
Trùng hợp thay, đúng đêm hái hoa ấy, nàng vì nghịch ngợm mà trượt chân ngã xuống hồ nước trước sân tẩm đường, uống phải mấy ngụm nước bẩn, lại bị dọa sợ một phen.
A cha nàng lập tức sai người trong đêm lấp luôn cái hồ ấy.
Chuyện vốn đã qua rồi, không biết kẻ nhiều miệng nào lại đem chuyện Triệu Trung Phương dẫn tiểu quận chúa đi hái hoa lựu tố cáo trước mặt người.
Người nổi trận lôi đình.
Nếu không phải A nương hết sức khuyên can, nàng lại ôm chân A cha khóc đến khản cổ, thêm nữa Triệu Trung Phương vốn là bạn hầu lớn lên cùng người, e rằng tại chỗ đã bị đánh chết.
“Ngươi đừng sợ, ta đã cầu A nương rồi, là người cho phép ta tới đấy. Ta mang mật đường cho ngươi. Ngươi ăn đi.”
Nàng lấy từ chiếc túi nhỏ tinh xảo trang trí hoa văn dát vàng đeo trên người ra một viên mật đường, đưa tới bên miệng Triệu Trung Phương.
Viên mật trắng như ngọc, được nấu từ nước mía hảo hạng cùng sữa bò, còn nặn thành hình con thỏ nhỏ, cực kỳ đáng yêu.
Ban đầu Triệu Trung Phương nhất quyết không chịu ăn, về sau không chịu nổi nàng nài ép, mới cắn một miếng nhỏ.
“Ngon không?” Nàng nghiêng đầu hỏi.
“Ngon!”
“Ta còn mèo nhỏ, cá nhỏ, chó nhỏ nữa, đều cho ngươi hết! Ngươi ăn rồi mau khỏe lại, tiếp tục chơi với ta!”
Ào một tiếng, nàng đổ toàn bộ mật đường trong túi ra ngoài.
“Vương phi thật lương thiện, tiểu quận chúa đối với nô tài cũng tốt quá…”
Giọng Triệu Trung Phương nghẹn lại, cảm kích đến mức gần như muốn khóc.
“Ngươi là Triệu hữu đương của ta! Mãi mãi đều là vậy!”
Tiểu cô nương lớn tiếng reo lên.
Triệu Trung Phương giờ đang ở đâu?
Sống hay chết?
Đêm đó A nương không trở về, Quách Túng một mình quay lại, rốt cuộc đã nói gì với hắn?
Những kẻ truy sát nàng có thật như những gì nàng nhìn thấy không — là do người của Liễu gia sai tới? Mục đích lại là gì?
Còn nữa, hắn rốt cuộc có nói cho hoàng đế biết đêm năm ấy đã xảy ra những chuyện gì hay không?
Diệp Tự Vũ trở về lữ điếm, người đã mệt lả.
Đúng lúc bận rộn nhất trong ngày, khách ra vào không ngớt. Hai gã khách say vì đánh bạc mà lao vào ẩu đả. Cao đại nương vừa mắng vừa gọi người tới can ngăn, thế nhưng đám đông chung quanh lại chỉ hò hét cổ vũ.
Cao đại nương nổi giận, xách nguyên một thùng nước tạt thẳng lên đầu hai tên say rượu, lúc ấy mới tách được bọn chúng ra.
Bà vừa quay đầu thấy nàng bước vào, mắt lập tức sáng lên.
“Tiểu lang quân cuối cùng cũng về rồi! Đêm qua cả đêm không thấy về, ta còn tưởng ngươi không ở nhà ta nữa. Tới phòng xem thì đồ đạc vẫn chưa mang đi, ta cứ nghĩ ngươi gặp chuyện ngoài ý muốn, lo suốt cả đêm đấy…”
Diệp Tự Vũ như không nghe thấy.
Nàng bỏ lại sau lưng sự quan tâm của Cao đại nương cùng mọi thanh âm hỗn loạn, tự mình bước vào phòng, ngã đầu xuống liền ngủ mê mệt.
Khoảnh khắc nhắm mắt lại, trong lòng nàng chỉ còn duy nhất một ý niệm.
Nàng phải đi tìm hắn để hỏi cho rõ.
Triệu hữu đương của nàng.
Có phải chính hắn đã phản bội nữ chủ nhân năm xưa cùng tiểu quận chúa của hắn, không đem toàn bộ những gì mắt thấy tai nghe trong đêm ấy tấu lên trước mặt đương kim Thánh nhân — A cha nàng hay không.
A cha nàng đối với mọi chuyện đều hoàn toàn không hay biết.
……
Ngoài cánh cổng lớn sơn đen của một tòa tiến tấu viện gần hoàng thành, xuất hiện một nam tử trẻ tuổi y phục không quá phô trương nhưng dáng vẻ hiên ngang tuấn tú.
Mấy con phố quanh khu vực này còn có không ít nơi tương tự, đều là chỗ các phiên vương, phương bá hoặc tiết độ sứ ngoài kinh thiết lập tại Trường An để liên lạc tấu sự. Vì thế nơi đây không huyên náo như các phố thị khác. Lại đúng lúc quá ngọ, trên đường xe ngựa cũng chẳng nhiều.
Hắn báo tên với môn nhân của tiến tấu viện, rồi lặng lẽ đứng ngoài chờ đợi.
Chẳng bao lâu sau, bên trong đại môn vang lên một trận huyên náo, phá tan sự yên tĩnh buổi chiều.
Một thanh niên dáng vẻ quý nhân từ nội đường lao vụt ra ngoài. Một chiếc ủng còn chưa kịp xỏ hẳn đã bị văng lại trong sân, hắn cũng mặc kệ, chỉ đi tất trắng mà chạy thẳng ra cửa.
Nam tử đứng đợi bên ngoài quay người nhìn về phía hắn, trên mặt hiện ý cười nhàn nhạt.
“Nhị lang!”
Trong tiếng reo vui mừng ấy, A Sử Na Thừa Bình một chân bước mạnh qua ngạch cửa, “bịch” một tiếng, nắm đấm theo đó nện luôn lên vai đối phương.
“Hay cho Bùi Tiêu Nguyên ngươi! Sao hôm nay mới tới! Hại ta chờ mãi! Hôm qua ta tìm ngươi cả ngày! Còn tưởng ngươi xảy ra chuyện trên đường! Ngươi tới khi nào? Vào bằng cửa nào?”
Bùi Tiêu Nguyên không né tránh, trực tiếp nhận lấy cú đấm nặng nề từ bằng hữu, lúc này mới cười xin lỗi:
“Thật có lỗi, khiến ngươi lo lắng rồi. Đêm qua ta đã tới, vào thành từ Thông Hóa môn.”
A Sử Na Thừa Bình nghe xong lập tức nổi giận:
“Lão súc sinh kia thật to gan! Ta thấy tên dịch thừa Trường Lạc dịch ấy chán sống rồi! Sáng nay ta còn tới đó tìm ngươi, hắn lại dám nói với ta là không biết! Để lần sau ta tới xem ta có quất chết hắn không!”
Bùi Tiêu Nguyên nói:
“Ta đâu có lưu lại Trường Lạc dịch, hắn làm sao biết được?”
A Sử Na Thừa Bình khựng lại, rồi bật cười ha hả:
“Thôi thôi! Ngươi tới là tốt rồi!”
Hắn vươn tay kéo Bùi Tiêu Nguyên đi vào trong, lúc này mới phát hiện chân mình thiếu một chiếc ủng. Đã có tùy tùng nhặt lên dâng tới. Hắn nhảy lò cò xỏ lại vào chân, rồi dẫn Bùi Tiêu Nguyên vừa đi vừa cười nói tiến vào.
Sau khi ngồi xuống, tự nhiên trước tiên hỏi kết quả chuyến đi tìm người lần này. Nghe nói vẫn chưa tìm được, hắn không khỏi thất vọng.
“Ta cũng vậy. Trên đường tới đây hỏi thăm mãi mà chẳng có chút tin tức nào. Nếu người thật sự cứ thế mất tích, sau này e rằng ta chẳng dám đi gặp Bùi công nữa.”
“Ngươi nghĩ nhiều rồi. Ngươi vào kinh, nàng tự nhiên sẽ không cùng đường với ngươi. Hẳn là sẽ không xảy ra chuyện đâu. Từ nhỏ nàng đã theo A công bôn ba bên ngoài, nói không chừng lúc này đã quay về rồi. Chỗ Hà thúc chắc cũng sắp có tin mới thôi.”
Ngoài miệng Bùi Tiêu Nguyên tuy an ủi A Sử Na Thừa Bình như vậy, nhưng trong lòng thật ra cũng không quá chắc chắn.
A Sử Na Thừa Bình thở dài, giọng mang theo vài phần oán trách:
“Nữ nhân kia rốt cuộc chạy đi đâu rồi, khiến người ta tìm muốn chết!”
Bùi Tiêu Nguyên nhất thời trầm mặc.
A Sử Na Thừa Bình liếc hắn một cái:
“Thôi, không nói chuyện này nữa. Ngươi đã tận lực rồi.”
Nói xong liền đổi đề tài, lớn tiếng gọi người, lập tức sai tới tửu lâu Xuân Phong nổi danh nhất Trường An chuẩn bị yến tiệc, muốn tẩy trần đón gió cho Bùi Tiêu Nguyên.
Không đợi hắn mở miệng từ chối, A Sử Na Thừa Bình đã cười nói:
“Ngươi nói gì cũng vô dụng, bữa rượu này không tránh được đâu. Trong các vệ ở kinh thành có không ít con cháu thế gia giao hảo với ta đã ngưỡng mộ ngươi từ lâu. Biết lần này ngươi vào kinh, họ hỏi ta không biết bao nhiêu lượt. Nếu ngươi không đi thì ta không sao, nhưng ngươi thử hỏi xem bọn họ có chịu không!”
Bùi Tiêu Nguyên hơi suy nghĩ, rồi cười:
“Vậy thì đa tạ. Tối chút nữa ta tự tới là được. Lát nữa còn phải ghé Thôi phủ một chuyến.”
Thôi thị được xưng là thiên hạ đệ nhất sĩ tộc. Cữu phụ của hắn thuộc một chi trong đó, chuyện này A Sử Na Thừa Bình sớm đã biết, nghe vậy cũng không giữ nữa, gật đầu:
“Cũng được, vậy ta không giữ ngươi lại.”
“Lúc trước khi ngươi còn chưa tới, cữu phụ ngươi đã mấy lần sai người tới đây nhắn lời, bảo nếu gặp được ngươi thì lập tức báo tin cho ông ấy.”
Nói xong, hắn lại hỏi chuyện chỗ ở sau này, muốn giữ Bùi Tiêu Nguyên ở luôn nơi mình.
Bùi Tiêu Nguyên đáp rằng mình đã tạm trú tại truyền xá của Kim Ngô Vệ, mấy hôm nữa sẽ chuyển sang công giải, như vậy cũng tiện.
A Sử Na Thừa Bình biết hắn không muốn ở lại đây nên cũng không miễn cưỡng. Hai người lại trò chuyện thêm một lát, rồi hắn đứng dậy tiễn ra ngoài, còn dặn đi dặn lại chuyện tiệc tẩy trần tối nay, lúc ấy mới chia tay.
Mình đang hết sức cố gắng để duy trì web truyện này. Nhưng có thể do lý do khách quan mà tới 1 ngày nào đó bạn không thể truy cập được... thì cũng đừng hoang mang nhé 😌 Mình vẫn luôn ở đây: Ghé nhóm Facebook để không lạc mất nhau!
Mời trà sữa 3 mẹ con:
PayPal:
lechamad@gmail.com

Chưa có thảo luận nào cho bộ truyện này.